(08) 6 293 3393

Tin tức

Video clip

Quảng cáo dịch vụ

Thống kê truy cập

  • Đang online:2

  • Hôm nay:10

  • Tuần này:129

  • Tháng này:2748

  • Tổng truy cập:316186

Nha khoa tổng quát

Nha khoa tổng quát

Đăng lúc: 10-09-2013 11:00:58 AM - Đã xem: 1867

Bệnh nha chu là một bệnh nhiễm trùng gây ra bởi những vi khuẩn lưu trú trong mảng bám và cao răng. vôi răng không thể đánh sạch được với bàn chải và kem đánh răng. Bạn cần định kỳ đến một nha khoa để lấy đi phần cao răng đó nhằm loại bỏ ổ vi khuẩn lưu trú gây nên bệnh nha chu

Bệnh nha chu không chỉ gây mất răng

Triệu chứng bệnh

Ở giai đoạn sớm, nướu bị viêm đỏ, dễ chảy máu khi đánh răng hay khi người bệnh nút mạnh. Giai đoạn này gọi là “viêm nướu”, bạn chỉ cần đến phòng khám nha khoa lấy vôi răng là nướu sẽ phục hồi hồng hào lại như cũ và hết chảy máu nướu.
Nếu không điều trị sớm ở giai đoạn “viêm nướu”, nướu sẽ bị tuột làm răng trong có vẻ dài hơn và sau cùng xương ổ răng cũng mất đi làm răng lung lay. Giai đoạn này được gọi là “Nha chu viêm”. Điều trị Nha chu viêm rất phức tạp, tốn kém thời gian và kết quả không bao giờ hoàn hảo.

Healthygums 300x200 Bệnh nha chu không chỉ gây mất răng
Hình nướu bình thường
Gingivitis 300x200 Bệnh nha chu không chỉ gây mất răng

Hình nướu bị viêm

Tuy nhiên, bệnh nha chu không chỉ gây mất răng, hậu quả của nhiễm trùng nha chu còn nghiêm trọng hơn rất nhiều.
1.    Nhiễm trùng Nha chu và bệnh tiểu đường:

Trước đây người ta thường cho rằng chính bệnh tiểu đường gây ra bệnh nha chu. Ngày nay có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng nhiễm trùng nha chu là một nhân tốt quan trọng gây ra bệnh tiểu đường.

Ngoại trừ tế bào não, trên bề mặt các tế bào đều có những thụ thể insulin. Những thụ thể insulin điều tiết lượng đường glucose hấp thu vào tế bào dưới tác động của nội tiết tố insulin tiết ra từ tụy tạng.

Nhiễm trùng nha chu theo đường tuần hoàn máu đến các tế bào và gây bất hoạt những thụ thể insulin gây nên hiện tượng “kháng insulin”. Đối phó lại tuyến tụy phải tăng tiết insulin để ép tế bào hấp thu glucose nhằm giữ đường lượng trong máu là một hằng số. Khi phải cố gắng tăng tiết insulin thời gian dài tuyến tụy sẽ suy nhược dẫn đến bệnh tiểu đường.

2.    Nhiễm trùng Nha chu và bệnh tim mạch:

Nhiễm trùng nha chu tác động vào hệ tim mạch theo 2 cách: trực tiếp và gián tiếp.

Trực tiếp: vi khuẩn trong túi nha chu xâm nhập đường tuần hoàn máu trực tiếp tác động lên tim và mạch máu.

Gián tiếp: vi khuẩn nha chu và độc tố của chúng tác động lên gan làm sản sinh ra những chất có hại cho hệ thống tim mạch như CRP (C-reactive Protein), fibrinogen, LDL (low density lipoprotein).

Hậu quả là:

  • Thành mạch máu có những sang thương dẫn đến mảng xơ vữa động mạch.
  • Đường kính mạch máu bị thu nhỏ do phản ứng viêm.
  • Máu dễ bị vón cục do tác động của CRP, fibrinogen, LDL.
  • Nhiễm trùng nội tâm mạc.

Như vậy nhiễm trùng Nha chu là một trong những tác nhân gây suy yếu hệ tim mạch; chúng làm máu bị cô đặc, thành mạch bị thu nhỏ -> tắc mạch -> tai biến mạch máu và đột quỵ. Khi nhiễm trùng nội tâm mạc xảy ra, tim bị suy (bệnh thấp tim). Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy có sự liên hệ giữa nhiễm trùng Nha chu và bệnh Thấp tim như nghiên cứu của ARBE tại viện điều tra dịch tể học NHANE Hoa Kỳ. Nhiễm trùng Nha chu nặng giữ vai trò quyết định như một “cú đánh bồi thêm” gây đột quỵ trong bệnh tim mạch.

3.    Nhiễm trùng Nha chu và sinh non, sinh thiếu cân:

Y học định nghĩa sinh non khi thai kỳ dưới 37 tuần tuổi và sinh thiếu cân khi thai nhi nặng không đến 2.500g. Tỷ lệ sinh non và sinh thiếu cân tại Hoa Kỳ từ 6% – 9%, gây tử vong 70% cho trẻ sơ sinh.

Bệnh căn được cho là hút thuốc, nghiện rượu, hóa chất độc hại, vệ sinh kém, tiểu đường. Gần đây những phát hiện tình trạng cơ thể bị nhiễm trùng mãn tính (như khi bị bệnh Nha chu) đóng góp vai trò không nhỏ gây sinh non và sinh thiếu cân.

Nhiễm trùng mãn tính khi đang mang thai làm tăng tiết prostaglandin, gây nên sự giãn nở và co thắt của tử cung dẫn đến sinh non.

Thống kê cho thấy tỷ lệ sinh non ở phụ nữ mang thai không điều trị bệnh Nha chu là 10,1% so với nhóm chứng được điều trị bệnh Nha chu chỉ còn 1,8%.

Ngoài những tác hại đã được kiểm chứng kể trên, ngày nay người ta còn thấy nhiễm trùng Nha chu có liên quan đến những bệnh lý khác như viêm phổi bệnh viện, đột quỵ…

Điều trị bệnh Nha chu giai đoạn đầu (viêm nướu) rất đơn giản và hiệu quả. Bạn chỉ cần đếnNha khoa 1-2 lần hẹn để lấy vôi răng và đánh bóng mặt răng (đánh bóng mặt răng làm vôi răng lâu bám trở lại), bệnh sẽ khỏi sau 1 tuần. Tuy nhiên nếu để bệnh tiến triển lâu hơn thành Nha chu viêm, việc điều trị sẽ rất khó khăn.

calculus Bệnh nha chu không chỉ gây mất răng
Viêm nướu trước điều trị và sau khi điều trị cạo vôi đánh bóng răng, màu nướu hồng hào trở lại, không bị viêm đỏ
Recession 300x186 Bệnh nha chu không chỉ gây mất răng

Bệnh nha chu viêm (nướu đã bị tuột)

Để phòng ngừa bệnh Nha chu, bạn cần chải răng ngay sau khi ăn và ghé Nha sĩ của bạn để lấy vôi răng ít nhất mỗi năm một lần.

 Trám răng thẩm mỹ

Trám răng thẩm mỹ là cách trám nhóm răng cửa cho đẹp vì màu sắc của chất trám thẫm mỹ rất giống màu men và ngà răng. Kỹ thuật trám răng thẩm mỹ làm giảm thiệt hại cho ngà răng vì không phải đào lỗ xoang sâu rộng ra như phương pháp trám răng cũ phải làm ngàm hình đuôi én, làm ngà răng bị mất chất

Với vật liệu trám có cùng màu sác với răng, việc trám răng hiện nay không chỉ phục hồi lại chức năng mà còn trả lại màu sắc tự nhiên của răng. Với sự đa dạng về màu sắc của vật liệu trám cũng như sự khéo léo của nha sĩ, răng của bạn sẽ được phục hồi và đạt thẩm mỹ cao.

Về cơ bản có 2 cách trám răng được sử dụng phổ biến:

             - Trám răng trực tiếp: Bác sĩ sẽ trực tiếp thực hiện kỹ thuật trám trên miệng khách hàng chỉ trong thời gian ngắn

            -  Trám răng gián tiếp:  Lúc này Bác sĩ sẽ thực hiện việc lấy dấu, trên cơ đó đúc miếng trám phù hợp và đặt lại trên răng

  Những trường hợp nên trám răng thẩm mỹ:
       
              -  Sâu răng:  do nguyên nhân nào đó răng bạn bị sâu, lúc này trên bề mặt nhai xuất hiện những lỗ nhỏ làm cho thức ăn bị giắt vào. Trầm trọng hơn là lỗ sâu ảnh hưởng đến tủy gây nên tình trạng ê buốt...  Trong trường hơp này việc cần thiết là phải trám lại, trả lại bề mặt nhẵn ban đầu cũng như màu sắc tự nhiên cho răng. 

                Đặc biệt là đối với các vị trí răng cửa thì việc lựa chọn phương thức trám răng thẩm mỹ là điều nên làm bởi không chỉ trả lại bề mặt nhẵn , kín ban đầu thì việc trám răng thẩm mỹ còn phải đảm bảo cả yếu tố thẩm mỹ.

              -  Mòn cổ răng: Việc vệ sinh răng miệng không đúng cách, thói quen đánh răng theo chiều ngang trong một thời gian dài sẽ làm cổ răng bạn bị mòn đặc biệt là ở  vị trí răng cối. Trong trường hợp này việc trám răng là điều cần thiết nhằm bảo tồn răng.

              - Trám bít hố rãnh:  Là phương pháp sử dụng cho các răng có nguy cơ bị sâu nhưng hiện tại vẫn chưa sâu. Kỹ thuật này có thể hạn chế việc bị sâu răng lên tới 85%.

               - Răng bị sứt, mẻ:  Do nguyên nhân nào đó mà răng bạn không còn được như ban đầu, răng bạn bị sứt, mẻ là điều bạn không hề mong muốn. Trong trường hợp này việc lựa chọn phương thức trám răng là sự lựa chọn hoàn hảo. Với kỹ thuật trám răng mới nhất sẽ trả lại cho bạn hình dáng chiếc răng ban đầu cũng như đầy đủ chức năng nhai.

               - Răng thưa:  Việc sở hữu một hàm răng thưa là điều bạn không mong muốn. Không chỉ thiếu tính thẩm mỹ mà nó còn gây khó khăn trong việc ăn uống cũng như vệ sinh răng miệng. Giờ đây bạn hoàn toàn có thể khắc phục nhược điểm đó với kỹ thuật trám răng thẩm mỹ.

                - Răng bị nhiễm Tetracycline hoặc thiểu sản men răng: Thiểu sản men răng hay nhiễm Tetracycline đều làm cho hàm răng bạn đổi màu, điều đó làm bạn thiếu đi sự tự tin? Giờ đây với sự tiến bộ vượt bậc của Khoa học kỹ thuật đặc biệt là trong lĩnh vực nha khoa thẩm mỹ chúng tôi khẳng định sẽ trả lại cho bạn hàm răng chắc khỏe, sáng bóng bằng kỹ thuật trám răng thẩm mỹ.

Bệnh đau khớp thái dương hàm
 
 
Hay bị đau ở trước tai, há ngậm miệng nghe tiếng kêu ở khớp, không há miệng lớn được, há ngậm lệch sang một bên hoặc không trơn tru, mỏi hàm... là những triệu chứng thường gặp của bệnh "loạn năng thái dương hàm". Ngoài ra còn có thể đau đầu, mỏi cổ và tai, đau tai, chóng mặt. Đây là bệnh mà trong đó hàm không thể thực hiện được các chức năng (ăn, nhai, nói, há ngậm...) một cách bình thường.
 
 Bệnh do nhiều yếu tố  phối hợp nhau gây nên, thường do khớp cắn không đúng, thói quen không tốt (như nghiến răng), yếu tố tâm lí, chấn thương, bệnh ở khớp thái dương hàm (như thấp khớp)...


Tùy theo tình trạng bệnh mà việc điều trị có thể bao gồm chỉnh khớp, làm máng nhai, uống thuốc, phẫu thuật...           

Chỉnh khớp được thực hiện khi khớp cắn giữa hai hàm không đúng, có thể cần phải mài răng (mài bỏ những chỗ làm cho khớp cắn bị vướng), nhổ răng, trám răng, làm răng giả...

 Máng nhai là khí cụ được làm riêng cho từng bệnh nhân, trùm lên các răng ở hàm trên hay hàm dưới. Nó thường được làm bằng nhựa cứng, trong suốt, tháo lắp được. Máng nhai giúp giảm đau và mỏi, giúp cân bằng hệ thống nhai và bảo vệ các răng. Tùy theo tình trạng bệnh mà bệnh nhân có thể đeo máng vào ban đêm hay ban ngày. Máng nhai cần được bác sĩ kiểm tra theo định kì vài tuần hay vài tháng.

Trường hợp bị trật hàm mỗi khi ngáp hoặc há miệng lớn có thể là do dây chằng khớp thái dương hàm bị dãn. Khi ngáp hoặc há miệng lớn, hàm dưới trượt ra trước, ra khỏi ổ khớp gây đau và không ngậm miệng lại được. Khi bị như vậy, bạn có thể nhờ người đứng trước bạn đặt ngón tay cái, ấn xuống rồi đẩy ra phía sau trên mặt ngoài của răng.  Hàm dưới sẽ trở về vị trí cũ. Người giúp đỡ cần phải để ngón tay cái xa mặt nhai bởi vì hàm đóng lại với một lực nhai khá lớn. Tốt nhất là nên đến để bác sĩ chỉnh sửa lại.

Nếu buổi sáng thức dậy bạn hay thấy đau, mỏi cơ hàm hoặc khi đang làm việc cũng gặp những triệu chứng tương tự thì có thể do công việc căng thẳng làm bạn cắn chặt hoặc nghiến răng. Có thể điều trị bằng máng nhai hoặc hỗ trợ bằng vật lý trị liệu như: siêu âm, massage. Điều quan trọng là phải loại bỏ nguyên nhân stress.

Trong thời gian điều trị bệnh (hoặc khi đã điều trị xong), cần phải:

Hạn chế ăn thức ăn quá cứng hay quá dai

Chú ý tránh những thói quen không tốt như nghiến răng, cắn chặt răng, cắn móng tay hay đồ vật khác.

Tập luyện và xoa nắn cơ, khớp theo hướng dẫn của bác sĩ

Chườm ấm ở những vùng đau

Tránh stress trong cuộc sống

Sâu răng
 
 

Chảy máu chân răng hay đúng hơn là chảy máu lợi răng thường gặp do bị u lợi, viêm quanh răng (nha chu) nhưng phổ biến nhất là vì viêm lợi.

Viêm lợi gây đau nhức quanh răng, nhất là khi ăn thức ăn quá nóng, mặn sẽ khiến lợi sưng tấy, đau nhức. Viêm lâu ngày thì chỗ viêm chỉ hơi sưng, có viền cổ răng, không đau nhưng rất dễ chảy máu khi va chạm dù nhẹ.

Nguyên nhân viêm lợi có thể do bệnh như tiểu đường, tim mạch, thiếu vitamin... nhưng phần lớn là do vệ sinh răng miệng kém, nhiều cao răng (do muối khoáng trong nước bọt) đọng trên cổ răng gây viêm lợi, tụt lợi. Sau khi ăn uống không súc miệng, chải răng sạch, cặn thức ăn đọng trên răng lợi, vi khuẩn tấn công, tạo nên bựa bẩn gây viêm lợi và sâu răng.

Điều trị:

 Phương pháp tạm thời:

1. Lấy một túi trà lọc nhỏ và nhúng nó vào cốc nước lạnh. Sau đó lấy túi trà đã được nhúng ướt và lạnh để vào trong lợi bị chảy máu.

 2. Lấy hạt tiêu đen và lá húng quế với lượng tương đương nhau sau đó xay ra và để vào chỗ đau. Nó giúp lành vết thương nhanh chóng mà lại giảm đau có hiệu quả.

 3. Ngoài ra, ăn 2 quả bưởi mỗi ngày trong vòng nửa tháng sẽ giúp giảm hiện tượng chảy máu chân răng. Nguyên nhân có thể do sự gia tăng lượng vitamin C trong máu - vi chất giúp mau lành tổn thương do các phân tử gốc tự do gây nên - nhóm nghiên cứu Đại học Đại học Friedrich Schiller (Đức) cho biết trên tạp chí Dental của Anh.

Trung bình một quả bưởi chứa gần 92,5 mg vitamin C. Theo giới chuyên môn, một chế độ dinh dưỡng cân bằng và lành mạnh cũng cung cấp đủ lượng cần thiết. Tuy nhiên, do cơ thể không có khả năng giữ vitamin C thừa nên cần bổ sung đều đều.

 Một lưu ý là không đánh răng ngay sau khi ăn bưởi, vì các loại quả chua chứa nhiều axit nên dễ làm yếu men răng và gây mòn răng.

 4. Kết hợp dùng 1 trái chanh và 2 gam tỏi mỗi ngày cũng có khả tăng vitamin C, từ đó ngăn chặn chứng chảy máu chân răng. Đó chính là kết luận của các nhà khoa học thuộc Đại học Punjabi (Ấn Độ).

 5. Cho lá chè vào túi vải đổ nước sôi hãm cho chè ngấm, hòa một thìa mật ong vào một cốc nước chè mỗi lần ngậm 3 phút rồi mới nuốt. Tác dụng chữa một số bệnh về họng và răng miệng như viêm họng, tưa lưỡi, viêm lợi, viêm chân răng.

 6. Xoài cũng là loại trái cây nhiều vitamin C và vitamin A, xoài xanh có nhiều vitamin C hơn vitamin A. Để chữa bệnh chảy máu chân răng, bạn có thể dùng quả xoài gần chín còn chứa nhiều vitamin C làm các dạng thích hợp. Hoặc ăn xoài chín, uống nước ép.

 7. Hãy từ bỏ thuốc lá vì đó chính là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh nướu lợi. Nguyên nhân có thể do thuốc lá làm thay đổi cách cơ thể chuyển hóa vitamin C hoặc người hút thường có chế độ dinh dưỡng kém lành mạnh.

  Điều trị hoàn toàn:

Bạn muốn chữa hết chứng chảy máu lợi cần tìm rõ nguyên nhân, nên đi khám tại các chuyên khoa Răng-hàm-mặt. Nếu do đọng cao răng thì phải cạo sạch cao, viêm lợi thì phải điều trị, còn dùng các loại thuốc phải theo chỉ định của nha sĩ, bác sĩ.

 Hôi miệng

 

Nguyên nhân của bệnh hôi miệng thuộc 2 nhóm chính: vệ sinh miệng kém hoặc bệnh dạ dày, đường ruột. Những việc bạn nên làm nhất là ăn uống hợp lý (nhiều hoa quả và rau, uống nhiều nước) và đánh răng sau ăn. Nhưng có phải lúc nào bạn cũng đánh răng ngay được ngay sau bữa ăn đâu. Một số thức ăn sẽ cứu bạn:

Một số loại cỏ cây, thảo mộc có khả năng “chiến đấu” với mùi trong hơi thở rất tốt như rau mùi, lá bạc hà, khuynh diệp lá, lá hương thảo và bạch đậu khấu. Bạn có thể dùng một chút thảo mộc dưới dạng lá tươi, hoặc trà ấm. Những loại thảo mộc này cũng giúp cho tiêu hóa tốt nữa.

Sữa chua được chứng minh là làm giảm lượng hydro sunfur gây mùi trong miệng, với liều lượng một hộp mỗi ngày. Nó cũng làm giảm lượng vi khuẩn trong miệng, thậm chí cũng làm giảm cả những bệnh về lợi và mảng bám răng.

Ngoài ra, lượng vitamin D từ sữa chua và phomát cũng giúp giảm nỗi lo về chứng hôi miệng. Loại vitamin này tạo ra một môi trường không thân thiện đối với vi khuẩn. Nhưng nếu bạn ăn sữa chua hằng ngày, hãy nhớ chọn loại không quá nhiều đường.

Các loại rau quả giòn như táo, cà rốt, cần tây (nói chung là những loại rau quả giàu chất xơ) nên có trong mỗi bữa ăn để chống hôi miệng. Các mảng bám răng gây ra mùi trong miệng, và các thực phẩm này làm tăng tiết nước bọt, giúp miệng bạn giữ được ẩm và sạch hơn.

Kẹo cao su không đường không thay thế được cho việc đánh răng sau bữa ăn; nhưng nếu cần thiết, nó có thể làm hơi thở của bạn được cải thiện ngay lập tức. Đó cũng là một cách tăng tiết nước bọt. Kẹo cao su bạc hà cũng tốt, nhưng nếu dùng loại có đường thì chính đường lại tạo ra mảng bám răng.

Cam quýt, dưa vàng, dâu và những thực phẩm giàu vitamin C đều tạo ra môi trường không thích hợp cho vi khuẩn phát triển. Bữa ăn nhiều vitamin C cũng quan trọng để phòng bệnh viêm lợi – một nguyên nhân chủ yếu gây ra mùi trong hơi thở.

 Nguyên nhân ê răng

 

Phần răng mà chúng ta có thể thấy được bao phủ bởi một lớp men bảo vệ ngà răng bên dưới. nếu men răng bị phá hủy, răng trở nên nhạy cảm. điều này thường xảy ra ở chỗ răng và nướu gặp nhau (đường viền nướu) vì nơi này men răng mỏng nhất.

Có một vài nguyên nhân gây ê răng:

- Mòn răng do bàn chải: bàn chải quá cứng, chải răng không đúng phương pháp đánh răng theo hàng ngang cũng có thể làm cho ngà răng bị mòn, đặc biệt tại vị trí viêm nướu đường viền nướu.

- Mòn răng: bị mất men răng do sự tấn công của acid trong thức ăn và đồ uống. nếu men răng bị mòn thì ngà răng bên dưới sẽ bị phá hủy, đây là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bị ê răng.

- Tụt nướu: nướu có thể tụt xuống (teo lại) và chân răng lại bị lộ ra dễ bị tổn thương, có nhiều nguy cơ gây ê răng. Bề mặt của chân răng sẽ không còn lớp men bảo vệ nữa.

- Bệnh nướu: những mảm bám, vôi răng làm cho nướu bị tụt xuống và nó sẽ phá hủy xương nâng đỡ răng. Túi nha chu có thể được hình thành trong nướu xung quanh răng, làm cho vùng răng đó khó vệ sinh sạch sẽ và có thể dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng hơn.

- Nghiến răng: nghiến răng là thói quen của nhiều người, nó làm cho men răng bị mòn đi nên bệnh nhân thây ê răng.

- Một vài nguyên nhân khác: răng bị mẻ hoặc là răng trám. Răng bị mẻ là nguyên nhân làm cho răng bị gẫy. một mảnh vỡ có thể kéo dài từ mặt nhai đến chân răng. Khi gặp nhiệt độ bất thường, đặc biệt là lạnh sẽ gây ra cảm giác ê buốt.

- Răng trám: một vài bệnh nhân bị ê răng trong một thời gian ngắn sau khi trám răng. Nên tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi điều trị răng.

 Răng khôn

 

Người trưởng thành có 32 răng. Răng khôn mọc cuối cùng, chúng thường mọc trong độ tuổi từ 17 đến 25, thỉnh thoảng cũng có thể trễ hơn. Ngày nay, người ta thường có xương hàm hẹp hơn, chỉ đủ chỗ cho 28 răng. Vì vậy nếu tất cả những răng khác đã có đầy đủ thì có thể không còn chỗ cho răng khôn. 

           

Nếu như có đủ chỗ thì chúng sẽ mọc ngay vị trí hữu dụng và không gây ra vấn đề gì nhiều hơn răng khác. Thông thường, khi răng khôn mọc, bạn hơi bị đau nhưng đó chỉ là cảm giác tạm thơi, cảm giác này sẽ biến mất khi răng đã mọc lên hoàn toàn và đúng vị trí. 
Nếu không có đủ chỗ, răng khôn vẫn có thể mọc lên nhưng nó sẽ bị chèn ép bởi những răng đã mọc trước. Răng khôn mọc ở vị trí răng sữa và được bác sĩ miêu tả như “impacted”
 Nếu như chỉ một phần răng khôn trồi lên còn phần còn lại vẫn bị nướu bao phủ thì nướu sẽ bị đau và sưng đỏ. Thức ăn và vi khuẩn tụ hợp dưới nướu, gây khó khăn cho việc vệ sinh răng miệng. Đây chỉ là tình trạng tạm thời và có thể được giải quyết bằng cách sử dụng nước súc miệng và các phương pháp vệ sinh đặc biệt (có thể dung thuốc kháng sinh) nhưng tốt nhất vẫn là nhổ răng khôn.
Nếu như nướu răng bị đau và sưng đỏ thì bạn nên súc miệng với nước ấm có pha khoảng một muỗng muối (kiểm tra độ ấm của nước trước khi sử dụng), cố gắng cho nước muối vào những nơi mà bàn chải không thể chải tới được. Nước súc miệng kháng khuẩn như Corsodyl có thể làm giảm sự nhiễm trùng. Thuốc viên giảm đau như paracetamol hoặc aspirin cũng có thể giảm đau trong một thời gian ngắn nhưng nên hỏi bác sĩ nếu cơn đau vẩn còn tiếp tục. 
Nếu cơn đau vẫn không khỏi hoặc bạn cảm thấy khó khăn khi mở miệng thì bạn nên đến gặp bác sĩ. Họ có thể tìm ra nguyên nhân của vấn đề và cho bạn biết phải làm gì. Có thể phải làm sạch vùng xung quanh chân răng và bắt buộc phải dung thuốc kháng sinh. 
Bác sĩ sẽ chụp X quang để biết tình trạng của chân răng và biết có còn đủ chỗ cho răng khôn mọc lên không. 
Răng khôn sẽ được nhổ bỏ khi:

  • Khi không có đủ chỗ thì việc răng khôn mọc lên sẽ gây đau hoặc gây khó chịu. 
  • Nếu như chỉ có một phần trồi lên và bị hư hại - nhiều răng khác cũng bị hư hại khi nó không được làm vệ sinh sạch sẽ.
     Nếu như răng khôn gây ra nhiều vấn đề và nó không thực sự hữu dụng.Nếu răng khôn bắt đầu “over grow”. Điều này thường xảy ra khi có một cái ở hàm dưới đã nhổ rồi hoặc bị chèn ép không thể nào mọc lên được và cái ở hàm trên không có răng cắn đối lại. Cho nên răng khôn hàm trên sẽ di chuyển để tìm răng lien kết với nó. 
    Nếu chúng làm cho bạn bị đau. 
    Đau hay không đau khi nhổ răng khôn, tất cả phụ thuộc vào vị trí và hình dạng của chân răng. Bác sĩ sẽ cho bạn biết mức độ khó dễ sau khi chụp x quang. 
    Răng khôn hàm trên thường dễ nhổ hơn răng khôn hàm dưới. Thông thường, có khả năng môi sẽ bị tê sau khi nhổ răng khôn hàm dưới. Bạn sẽ được gây tê tại chỗ - giống như trám răng - để giảm đau
    Sau khi nhổ răng khôn, miệng sẽ bị sưng trong một vài ngày nhưng vùng nhổ răng sẽ sớm lành thương và sẽ không có gì khác với khuôn mặt trước kia. Có thể bạn sẽ cảm thấy khó chịu, đặc biệt là khi răng khôn bị chèn ép.  Tốt nhất là nên hoàn toàn thư giãn trong 24h sau khi nhổ để chắc chắn rằng không có vấn đề về sự đông máu. Bác sĩ sẽ khâu vài mũi giúp nướu mau lành thương. Một tuần sau bạn quay lại cho bác sĩ kiểm tra và cắt chỉ. 
     
    Điều trị tủy - Nội nha
    Nếu buồng chứa dây thần kinh của răng bị nhiễm trùng do sâu răng hoặc chấn thương thì nhiều khi chỉ có một cách giữ lại răng, đó là điều trị ống chân răng.
     

    Bên trong vỏ ngoài cứng của răng có một vùng đặc biệt được gọi là tủy hay buồng chứa dây thần kinh. Buồng tủy chứa một hệ thống các mạch máu, mạch bạch huyết và dây thần kinh (cũng gọi là tủy) được dẫn từ xương thông qua các ống chân răng vào buồng. Hệ thống này cung cấp chất dinh dưỡng cho các tế bào trong răng.

    nha_khoa_rang_su-dieu_tri_tuy_rang_noi_nha_1

    Nếu răng bị sâu nặng hay bị chấn thương thì có thể gây thiệt hại hoặc nhiễm trùng cho tủy răng. Khi điều trị ống chân răng, hay gọi cách khác là điều trị nội nha, nha sĩ rút tủy bị hư hay nhiễm trùng rồi thế vào đó một chất độn đặc biệt để giúp duy trì cơ cấu răng còn lại.

    Một số dấu hiệu cho thấy việc cần điều trị ống chân răng là:

    • Bị đau hoặc nhói khi nhai.

    • Nhạy cảm với thức ăn nóng và lạnh.

    • Sâu răng nặng hoặc chấn thương gây áp-xe (nhiễm trùng) trong xương.

    *QUÁ TRÌNH ÐIỀU TRỊ ỐNG CHÂN RĂNG

    nha_khoa_rang_su-dieu_tri_tuy_rang_noi_nha_2

     Bước 1
    Sau khi răng được chích thuốc tê, nha sĩ sẽ khoang một lỗ hổng xuyên qua thân răng vào buồng tủy.

    Bước 2

    Xác định chiều dài của ống chân răng.

    nha_khoa_rang_su-dieu_tri_tuy_rang_noi_nha_3

     
     

    nha_khoa_rang_su-dieu_tri_tuy_rang_noi_nha_4

    Bước 3
    Rút ra phần tủy bị hư. Ống chân răng được làm sạch, mở rộng và điều chỉnh hình dạng.

     

    Bước 4
    Ống chân răng được độn và hàn lại. Một trụ bằng kim loại có thể được gắn vào để củng cố răng hoặc giữ lại các chất dùng để phục hồi răng.

     

     

    nha_khoa_rang_su-dieu_tri_tuy_rang_noi_nha_5

     

    nha_khoa_rang_su-dieu_tri_tuy_rang_noi_nha_6

    Bước 5
    Răng được tạm thời trám lại. Thường thì mão chụp răng bằng vàng hoặc sứ giúp bảo vệ thêm cho răng.

     Chất độn trong ống chân răng có lẽ sẽ vĩnh viễn ở trong đó, nhưng sau này bạn có thể cần thay thế chất trám hoặc mão chụp răng.

     
         
    Bên trong mỗi răng đều chứa một hệ thống thần kinh và mạch máu nằm trong hệ thống ống tủy để nhận cảm giác và nuôi dưỡng cho răng.Khi tủy răng bị bệnh do những nguyên nhân do sâu răng không được điều trị kịp thời, do miếng trám không đạt chất lượng, răng bị rạn nứt, bệnh nha chu….Bác sỹ buộc lòng phải loại trừ đi phần tủy hư để bảo tồn răng.
    Điều trị tủy là việc làm sạch tất cả các mô tủy nhiễm trùng và sau đó trám lại bằng một loại vật liệu trám bít đặc biệt để bảo vệ không cho vi khuẩn xâm nhập vào hệ thống này lại.Điều trị tuỷ răng là đặc biệt cần thiết, không những để bảo tồn răng mà còn để ngăn ngừa nhiễm khuẩn từ tuỷ răng đi vào xương hàm và đường máu.
     
    Những dấu hiệu cho thấy tuỷ răng của bạn có vấn đề:
    Đau tự phát không có nguyên nhân rõ ràng. Có thể đau khi ăn lẫn khi không ăn. Đau lúc nửa đêm khi ngủ.
    Nhạy cảm với nhiều thức ăn nóng, lạnh.
    Đau kéo dài sau khi bỏ kích thích.
    Răng bị mẻ, vỡ lâu ngày
     
     NỘI NHA-Kỹ thuật mới điều trị viêm tủy răng:
     Từ trước đến nay, điều trị các bệnh lý về tủy răng vẫn gặp nhiều trở ngại do cấu trúc ống tủy đa dạng, phương tiện điều trị còn hạn chế, nhưng khi trâm xoay Nickel - Titanium Protaper ra đời đã cải thiện đáng kể tình trạng trên. 
     
    Thêm một tiến bộ nữa được áp dụng giúp nâng cao chất lượng điều trị, mang lại cơ hội cho những người mong muốn chữa khỏi hoàn toàn bệnh lý tủy răng, giữ răng mà không phải nhổ và làm răng giả, đặc biệt với những răng ống tủy cong, rất khó khăn khi điều trị tủy bằng dụng cụ truyền thống trước đây.

    Tủy răng và viêm tủy răng là gì?
    Tủy răng là một mô mềm nằm ở giữa thân và chân răng, chủ yếu gồm các mạch máu và dây thần kinh. Khi tủy bị viêm, áp lực trong buồng tủy tăng cao gây những cơn đau có thể rất dữ dội cho bệnh nhân. Khi đó việc điều trị tủy là phải lấy bỏ toàn bộ tủy viêm, tạo hình và làm sạch ống tủy rồi hàn kín lại bằng vật liệu tương thích. Tuy nhiên, hình dạng, số lượng, đường đi và sự sắp xếp của các ống tủy rất đa dạng và phong phú như ở các chân răng dạng tròn hay dạng chóp thường có một ống, trong khi các chân răng dạng elip hoặc dẹt thường có nhiều ống tủy khiến cho việc điều trị các bệnh lý tủy răng để bảo tồn răng, bảo tồn sức nhai và phòng tránh các biến chứng của bệnh là rất khó khăn đối với nha sĩ.

    Nguyên nhân gây ra các bệnh lý về tủy răng
    Có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh lý tủy răng, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do vi khuẩn. Vi khuẩn có thể xâm nhập vào tủy răng qua các tổn thương răng như: sâu răng, nứt gãy thân răng, thiểu sản men, mòn men, lõm hình chêm cổ răng, vi khuẩn từ viêm quanh răng biến chứng gây viêm tủy ngược dòng... Ngoài ra, những chấn thương, miếng trám hở và tật nghiến răng... cũng có thể gây bệnh cho tủy răng. Những bệnh lý tủy răng nếu không được điều trị tốt và kịp thời, vi khuẩn và các độc tố sinh ra trong quá trình viêm tủy sẽ xâm nhập tổ chức dây chằng quanh cuống răng và gây ra biến chứng viêm quanh cuống răng, viêm xương hàm, gây nang chân răng... ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người bệnh. Chính vì vậy, điều trị tủy răng tổn thương để bảo tồn răng ngày càng được chú trọng.
    Kỹ thuật mới điều trị tủy răng
          
    1. Loại bỏ phần tuỷ bị nhiễm trùng với dụng cụ chuyên dụng Protaper. 
     
    2. Đưa chất hàn đặc biệt sát tới chóp chân răng để loại trừ sự xâm nhập của vi trùng từ bên ngoài vào ống tuỷ.